Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả giảm đau bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng trong chuyển dạ đẻ tại Bệnh viện đa khoa (BVĐK) Hà Đông và kết quả kết thúc chuyển dạ đối với các sản phụ và thai nhi.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu.
Kết quả: Tuổi sản phụ của bốn nhóm nghiên cứu từ 18 đến 37. Tuổi trung bình là 26,6 ± 4,2. Chiều cao của sản phụ từ 148 cm đến 168 cm. Chiều cao trung bình là 157,97 ± 4,25. Cân nặng sản phụ từ 51 - 80 kg, trung bình là 64,06 ± 6,25. Độ mở CTC của sản phụ tại thời điểm làm giảm đau nhóm nghiên cứu đều trong khoảng từ 3 cm - 5 cm. Phần lớn các sản phụ trong nhóm nghiên cứu thuộc ASA I chiếm 82,2%. Trước gây tê, đa số các sản phụ cảm thấy đau nhiều với thang điểm VAS 7 - 8 (73,4%0 và 9 - 10 (23,3%). Điểm đau trung bình là 1,88 ± 0,76. Sau gây tê 15 phút, các sản phụ thấy đau nhẹ với thang điểm VAS 1 - 3 (92,2%) và 4 - 6 (7,8%). Trong 2 giờ đầu sau đẻ, tử cung co hồi tốt chiếm tỉ lệ 91,1%, có 8 trường hợp tử cung co hồi kém chiếm tỉ lệ 8,9%. Đa số các sơ sinh sau đẻ có chỉ số APGAR tốt > 8 điểm. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số APGAR sau 1 phút và sau 5 phút
Kết luận: Điểm đau trung bình trước gây tê là 7,88 ± 0,76, sau gây tê 15 phút là 2,32 ± 0,78. Sau sinh, đa số các trường hợp co hồi tử cung tốt (91,1%). Chỉ số APGAR trung bình sau 1 phút là 9,0 ± 0,6, sau 5 phút là 9,5 ± 0,8 Từ khóa: giảm đau, gây tê ngoài màng cứng ,chuyển dạ đẻ, BVĐK Hà Đông.
Từ khóa
Tài liệu tham khảo
2. Đào Thị Bích Phượng (2010), " Đánh giá hiệu quả của gây tê tủy sống kết hợp gây tê ngoài màng cứng để giảm đau trong và sau mổ lấy thai chọn lọc". Luận văn thạc sỹ y học. Trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trần Văn Quang, Bùi Ích Kim (2011). “Đánh giá hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ đẻ bằng gây tê ngoài màng cứng levobupivacain phối hợp với fentanyl ở các nồng độ và liều lượng khác nhau”. Luận văn thạc sĩ y học.
4. Vallejo MC1, Ramesh V, Phelps AL, et al (2007). Epidural labor analgesia: continuous infusion versus patient-controlled epidural analgesia with background infusion versus without a background infusion. J Pain. Dec; 8(12):970-5. Epub 2007 Aug 7.
5. Nguyễn Duy Hưng, Nguyễn Quốc Tuấn (2011). “Đánh giá hiệu quả của gây tê ngoài màng cứng lên cuộc chuyển dạ đẻ trên sản phụ đẻ con so tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 12/2010 đến tháng 4/2011”. Luận văn Bác sĩ nội trú.
6. Sheiner E, Shoham-Vardi I, Sheiner EK et al (2000). A comparison between the effectiveness of epidural analgesia and parenteral pethidine during labor. Arch Gynecol Obstet. 263(3):95-8.
7. Margarita Lovach-Chepujnoska, Jordan Nojkov, SlagianaJoshevska – Jovanovska et al (2014). Continuous versus patient-controlled epidural analgesia for labour analgesia and their effects on maternal motor function and ambulation. Contributions. Sec. Med. Sci., XXXV 2,2014.
8. Lim Y, Ocampo CE, Supandji M, et al (2008). A randomized controlled trial of three patient-controlled epidural analgesia regimens for labor. AnesthAnalg. 2008 Dec; 107(6): 1968-72.
Công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-NonCommercial-NoDerivatives 4.0 International License. . p>
Download
Cùng tác giả
- Đỗ Minh Thu, Nguyễn Hà Bảo Vân, Nguyễn Tuấn Minh, Kết quả phẫu thuật u buồng trứng tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông , Tạp chí Phụ sản: Tập 22 Số 4 (2024): Số đặc biệt chào mừng hội nghị Sản Phụ Khoa Việt - Pháp 2024
